:::

Người hôn phối đến từ Đông Nam Á chiếm hơn 40% trong số các cuộc hôn nhân có vợ hoặc chồng là người nước ngoài ở Đài Loan năm 2018

Tổng số các cuộc hôn nhân có vợ hoặc chồng là người nước ngoài ở Đài Loan năm 2018 là 20.608 đôi; trong đó, số người hôn phối đến từ khu vực Đông Nam Á giữ vị trí đứng đầu với 8.749 người, chiếm tỷ lệ 42,45%. Hình trên là biểu đồ về số lượng công dân nước ngoài kết hôn với người Đài Loan từ năm 1987 đến 2017 (Ảnh: Bộ Nội chính)

Tổng số các cuộc hôn nhân có vợ hoặc chồng là người nước ngoài ở Đài Loan năm 2018 là 20.608 đôi; trong đó, số người hôn phối đến từ khu vực Đông Nam Á giữ vị trí đứng đầu với 8.749 người, chiếm tỷ lệ 42,45%. Hình trên là biểu đồ về số lượng công dân nước ngoài kết hôn với người Đài Loan từ năm 1987 đến 2017 (Ảnh: Bộ Nội chính)
 

 Theo thống kê của Bộ Nội chính, số cặp vợ chồng đăng ký kết hôn trong gần 10 năm qua ở Đài Loan đa số ở trong khoảng từ 130.000 đến 150.000 đôi; trong đó, năm 2009 là “năm cô loan” tức là năm không tốt cho việc kết hôn, nên số cặp đôi kết hôn chỉ có 117.000 đôi. Hai năm 2010 và 2011, do nền kinh tế khởi sắc và tỷ lệ thất nghiệp giảm, lại rộ lên phong trào kết hôn “Hạnh phúc vĩnh cửu” (năm 2010 là năm Dân Quốc thứ 99, số 9 trong tiếng Hoa đồng âm với chữ “cửu” trong từ “vĩnh cửu”) và “Bách niên hảo hợp” (năm 2011 là năm Dân Quốc thứ 100, nghĩa là “bách niên”) nên số đôi kết hôn trong hai năm này tăng gần 20%, năm 2010 đạt mốc cao nhất với 165.000 đôi kết hôn. Năm 2015, có tổng cộng 154.000 đôi kết hôn, là con số cao thứ 2 trong 10 năm trở lại đây. Các năm sau đó, số cặp đôi kết hôn trong mỗi năm đều giảm dần qua từng năm.
 

 Tổng số các cặp vợ chồng kết hôn trong năm 2018 là 135.403 đôi, giảm 1,91% so với năm 2017, đây là con số thấp nhất trong 9 năm qua. Trong đó, số cặp đôi có cả vợ và chồng đều mang quốc tịch Trung Hoa Dân Quốc là 114.795 đôi, chiếm 84,78%; số cặp đôi có 1 bên là người nước ngoài hoặc người Trung Quốc đại lục, Hồng Kông, Macau là 20.608 người, chiếm 15,22%.
 

 Người hôn phối khu vực Đông Nam Á giữ vị trí đứng đầu với 8.749 người, chiếm tỷ lệ 42,45%; người hôn phối khu vực Trung Quốc đại lục đứng vị trí thứ 2 với 6.944 người, đạt tỷ lệ 33,7%. Số người hôn phối thuộc các khu vực khác là 3.643 người, chiếm tỷ lệ 17,68%; người hôn phối khu vực Hồng Kông, Macau là 1.272 người, chiếm tỷ lệ 6,17%.
 

 Nếu nhìn từ quốc tịch gốc của số người hôn phối ngoài khu vực Trung Quốc đại lục, Hồng Kông và Macau thì người hôn phối quốc tịch Việt Nam là đông nhất với 6.070 người, người hôn phối quốc tịch Nhật Bản đứng thứ 2 với 1.045 người, người hôn phối quốc tịch Indonesia đứng thứ 3 với 792 người. So sánh với số liệu năm 2017, tổng số người hôn phối nước ngoài đã tăng thêm 245 người, trong đó số người hôn phối quốc tịch Nhật Bản tăng thêm 93 người, xếp vị trí dẫn đầu; số người hôn phối khu vực Trung Quốc đại lục và Hồng Kông, Macau lại giảm đi 734 người.
 

 Nếu phân tích theo giới tính, nữ giới là người nước ngoài chiếm tỷ lệ 73,87% (với 15.223 người) trong tổng số các cặp đôi có 1 bên là người nước ngoài, cao hơn số lượng nam giới là người nước ngoài (với 5.385 người, chiếm tỷ lệ 26,13%). Sự cách biệt giữa hai tỷ lệ này đã dần được thu hẹp vào những năm gần đây, tỷ lệ giữa nam và nữ từ 20,14/100 vào năm 2009 đã tăng lên 38,37/100 trong năm 2018.
 

 Theo số liệu thống kê đăng ký kết hôn, khu vực phía Bắc có số người kết hôn đông nhất với 10.506 người, chiếm 50,98%; khu vực miền Trung có 4.811 người kết hôn, chiếm tỷ lệ 23,35%, đứng ở vị trí thứ 2; khu vực phía Nam đứng thứ 3 với 4.761 người, chiếm tỷ lệ 23,1%. Số người kết hôn ở các huyện thị khu vực phía Đông chỉ có 361 người và khu vực Kim Môn, Mã Tổ chỉ có 169 người.
 

 Do khu vực Kim Môn và Mã Tổ nằm gần Trung Quốc đại lục nên số cặp đôi kết hôn có người hôn phối là người Trung Quốc đại lục chiếm tỷ lệ 16,48%, cao hơn tỷ lệ số cặp đôi kết hôn có người hôn phối là người Đông Nam Á ở các khu vực khác (tỷ lệ số cặp đôi kết hôn có người hôn phối là người Đông Nam Á ở miền Trung và miền Nam là 7,25% và 6,27%, tỷ lệ số cặp đôi kết hôn có người hôn phối là người Đông Nam Á ở miền Bắc là 3,29%).

 

(Nguồn: Hãng tin Trung ương CNA)